← Tất cả bài viết

ACCESSIBILITY KHÔNG PHẢI LÀ CHECKLIST. ĐÓ LÀ NGUỒN ĐỔI MỚI SẢN PHẨM

Vì sao accessibility phát huy tốt nhất khi là một nguyên tắc thiết kế thúc đẩy đổi mới sản phẩm, chứ không phải một danh sách tuân thủ ở cuối dự án.

Face ID, Dark Mode, phụ đề video, bàn chải đánh răng điện và những đoạn dốc nhỏ trên vỉa hè.

Ngày nay, chúng ta xem đây là những tính năng hiển nhiên hay tiện ích của cuộc sống hiện đại. Nhưng ít ai biết rằng nhiều thứ trong số đó ban đầu được tạo ra để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người khá nhỏ: những người gặp hạn chế khi nhìn, nghe, di chuyển hoặc tương tác với thế giới xung quanh.

Đó chính là bản chất của Accessibility (khả năng tiếp cận).

Điều thú vị là nhiều sản phẩm được tạo ra để phục vụ số ít cuối cùng lại trở thành tiêu chuẩn cho số đông.

Vì vậy tôi cho rằng các doanh nghiệp thường nhìn Accessibility quá hẹp. Họ coi nó là một danh sách yêu cầu cần hoàn thành để tuân thủ WCAG. Trên thực tế, Accessibility có thể là một trong những chất xúc tác mạnh nhất cho đổi mới sản phẩm.

Accessibility không chỉ là tuân thủ

Accessibility là khả năng để mọi người đều có thể sử dụng sản phẩm, bao gồm cả người khuyết tật hoặc người bị hạn chế về thính giác, thị giác, vận động hay nhận thức.

Trong phần mềm, tiêu chuẩn được biết đến rộng rãi nhất là WCAG (Web Content Accessibility Guidelines), với ba cấp độ tuân thủ: A, AA và AAA.

Với nhiều doanh nghiệp, WCAG thường được hiểu như một checklist:

Độ tương phản màu đủ.

Văn bản thay thế (alt text) cho hình ảnh.

Có thể thao tác bằng bàn phím.

Có thể phóng to chữ.

Nhãn cho trình đọc màn hình.

Cách tiếp cận này không sai, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ dừng ở mức tuân thủ, Accessibility trở thành một khoản chi phí.

Nhưng khi hiểu được mục đích sâu xa, Accessibility trở thành công cụ để khám phá những nhu cầu mà phần lớn thị trường chưa nhận ra.

Ràng buộc có thể tạo ra đổi mới

Trong thiết kế, ta thường nghĩ càng ít ràng buộc thì càng sáng tạo. Thực tế có thể ngược lại. Những ràng buộc đúng đắn thường buộc ta tìm ra giải pháp tốt hơn.

Accessibility là một trong những ràng buộc như vậy.

Khi sản phẩm phải phục vụ người lớn tuổi, người khiếm thị, người khiếm thính hoặc người hạn chế vận động, designer không thể dựa vào những giả định quen thuộc nữa. Họ buộc phải suy nghĩ sâu hơn về cách con người thực sự tương tác với sản phẩm.

Quá trình đó thường dẫn tới những ý tưởng mà có lẽ sẽ không bao giờ xuất hiện theo cách khác.

Khi thiết kế cho số ít tạo ra giá trị cho số đông

Bộ nguyên tắc Inclusive Design của Microsoft có một nguyên tắc nổi tiếng:

Giải quyết cho một người. Mở rộng cho nhiều người.

Lịch sử phát triển sản phẩm có rất nhiều ví dụ.

Phụ đề

Phụ đề ban đầu được phát triển để hỗ trợ người khiếm thính hoặc nghe kém. Ngày nay, hàng triệu người dùng phụ đề mỗi ngày để:

Xem video ở nơi công cộng.

Học ngoại ngữ.

Xem nội dung khi tắt tiếng.

Theo dõi nội dung trong môi trường ồn ào.

Một giải pháp tạo ra cho số ít đã trở thành hành vi phổ biến của số đông.

Bàn chải đánh răng điện

Chiếc bàn chải đánh răng điện đầu tiên được phát minh năm 1954 để hỗ trợ người hạn chế vận động và bệnh nhân đang niềng răng.

Ngày nay, nó được xem là một sản phẩm chăm sóc cá nhân cao cấp, phổ biến trên toàn thế giới.

Bồn tắm có cửa

Bồn tắm có cửa ban đầu được thiết kế cho người lớn tuổi và những người khó bước qua thành cao của bồn tắm thông thường. Sau này thị trường nhận ra thiết kế này còn mang lại:

An toàn hơn.

Giảm nguy cơ té ngã.

Tiện lợi hơn cho trẻ em và phụ nữ mang thai.

Hiệu ứng dốc vỉa hè (curb-cut effect)

Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về Inclusive Design là đoạn dốc trên vỉa hè, ban đầu được làm để người dùng xe lăn dễ lên xuống vỉa hè hơn.

Ngày nay, những người hưởng lợi nhiều nhất bao gồm:

Cha mẹ đẩy xe nôi.

Người kéo vali.

Nhân viên giao hàng.

Người đi xe đạp.

Một thiết kế tạo ra cho một nhóm nhỏ đã cải thiện trải nghiệm của gần như tất cả mọi người. Đó được gọi là hiệu ứng dốc vỉa hè (curb-cut effect).

KHÁM PHÁ THÊM